Chương 6. Christ: Người Ki tô giáo cuối cùng

Dhammapada: Con đường của Phật
The Dhammapada: The way of the buddha
Osho
Tập 05

 
Chương 6. Christ: Người Ki tô giáo cuối cùng

Câu hỏi thứ nhất:

Thưa thầy kính yêu,

Tôi nhìn vào trong mắt thầy và không có ai ở đó cả. Thầy ở đâu?

Anand Bhavo, giọt sương đã biến mất trong đại dương... bây giờ quên giọt sương đi và nhìn vào đại dương. Nếu bạn cứ tìm giọt sương, bạn sẽ bỏ lỡ đại dương; bạn sẽ vẫn còn bị bận tâm với giọt sương, bạn sẽ không có khả năng thấy cái bao la đã xảy ra. Giọt sương biến mất vào đại dương theo một nghĩa nào đó là không còn nữa, nhưng theo nghĩa khác nó lần đầu tiên hiện hữu - bây giờ nó đã trở thành đại dương.

Khi nhìn vào trong mắt tôi, đừng cố gắng tìm người; bạn sẽ không tìm thấy người nào ở đó cả. Người đã biến mất rồi; bây giờ có sự hiện diện. Sự hiện diện là vô hạn; người có sự xác định - biên giới, cái tên nào đó, hình dạng, cái nhãn. Sự hiện diện đơn giản là sự hiện diện. Hoa không còn nữa, nó đã trở thành hương thơm. Bạn có thể cầm đoá hoa trong tay mình, nhưng bạn không thể cầm được hương thơm trong tay mình. Để kinh nghiệm hương thơm tay không được cần chút nào. Đó là cách bạn phải tới gần tôi: bạn phải nhạy cảm hơn hướng tới sự hiện diện, đồng bộ với sự hiện diện của tôi.

Và cách duy nhất để đồng bộ với sự hiện diện của tôi là với bạn cũng phải làm tan biến con người của bạn và trở thành sự hiện diện. Chỉ hai sự hiện diện mới có thể gặp gỡ và quyện vào nhau và hội nhập. Nếu bạn còn là người thế thì không có khả năng nào của tan chảy và hội nhập với tôi. Bạn vẫn còn là tảng đá và tôi là dòng sông - làm sao bạn sẽ tan chảy và hội nhập với tôi được?

Bạn cũng trở thành sự hiện diện - đó là toàn thể giáo huấn của tôi, toàn thể thông điệp của tôi. Để cho người chết đi, để cho hoa biến đi, bởi vì người không là gì ngoài mặt nạ. Sự hiện diện là tinh hoa của bạn. Sự hiện diện là điều được ngụ ý bởi tính thượng đế. Không có Thượng đế đâu, chỉ có tính thượng đế thôi; nhưng bởi vì chúng ta là người nên chúng ta tưởng tượng Thượng đế cũng là người.

Thái độ của chúng ta đối với bản thân mình nhất định phản ánh thái độ khác của chúng ta nữa; thái độ của chúng ta đối với sự tồn tại nhất định là một phần của thái độ của chúng ta đối với bản thân chúng ta.

Bạn vẫn đang tìm trong mắt tôi một người - chắc chắn không có ai đâu. Do đó bạn có thể trở nên hãi hùng, sợ sệt, bởi vì bạn sẽ thấy cái trống rỗng, cái không.

Có ba giai đoạn của việc ở cùng tôi. Một giai đoạn là giai đoạn của học trò người nghĩ về tôi như một người. Người đó không bao giờ nhìn vào mắt tôi, người đó không bao giờ thử thấm nhuần vào bản thể tôi, người đó vẫn còn bận tâm tới cái bên ngoài, cái hình thức, thân thể tôi, lời tôi. Người đó vẫn còn là người ngoài, tò mò, ham muốn biết nhiều về tôi, khao khát tri thức, thông tin ngày một nhiều hơn. Nhưng có khoảng cách vô hạn giữa tôi và người đó. Người đó sẽ thu thập chút ít thông tin về những điều bí ẩn của cuộc sống và sẽ rời đi. Người đó sẽ trở nên thông thái hơn, bản ngã hơn; thực ra người đó sẽ rời đi mà ốm bệnh hơn là người đó tới, nặng gánh hơn là lúc người đó tới - nặng gánh với tri thức.

Người đó sẽ không có hương vị nào của trí huệ của tôi. Người đó không thể nào hiểu được trí huệ; người đó chỉ hiểu tri thức, người đó chỉ hiểu cái có thể được diễn đạt qua lời, lí thuyết, logic. Người đó sẽ không thể thấy được cõi bên kia. Người đó phải được thương hại. Người đó tới và đi vẫn hoàn tay trắng. Người đó tới dòng sông và trở về nhà vẫn khát. Người đó nghĩ mình đã thu được nhiều, nhưng tất cả những gì người đó đã thu thập đều là mảnh vụn bánh mì rơi từ trên bàn trong khi người đó có thể đã là khách của tôi - người đó vẫn còn là kẻ ăn xin.

Giai đoạn thứ hai là giai đoạn của đệ tử - người tới gần hơn chút ít, trở nên nhận biết về cái gì đó huyền bí, bắt đầu cảm thấy, đi từ thế giới của suy nghĩ sang thế giới của cảm nhận, trượt từ cái đầu xuống trái tim. Người đó sẽ có khả năng nghe không chỉ lời mà cả thơ ca ẩn đằng sau chúng. Người đó sẽ có khả năng nghe không chỉ lời, mà cả im lặng được hàm chứa trong những lời đó.

Tất nhiên người đó sẽ thấy cái bên ngoài nữa, nhưng người đó sẽ có khả năng hiểu rằng cái đó không phải là tất cả - cái gì đó hơn nữa có đó. Người đó sẽ không ý thức đích xác về nó, nhưng một cảm giác trực giác vô ý thức nhất định có đó. Nếu người đó lần lữa ở đây lâu hơn chút ít thế thì việc cảm đó sẽ trở nên vững chắc hơn, bản chất hơn. Đầu tiên nó sẽ chỉ là hình bóng, thoáng nhìn, linh ảnh thỉnh thoảng xảy ra và thế rồi mất đi, như khi mây biến mất và trong chốc lát bạn thấy mặt trời, rồi mây lại có đó và mặt trời không còn nữa.

Học trò không bao giờ thấy mặt trời, học trò chỉ thấy mây. Đệ tử, thỉnh thoảng, được cảm động bởi cõi bên kia, được xúc động bởi cõi bên kia. Học trò sống trong đầu, đệ tử sống trong tim. Nhưng vẫn còn là đệ tử thì không đủ - có tốt hơn học trò, tốt hơn nhiều, cao siêu hơn nhiều, nhưng không đủ. Cần thêm một bước nữa - và đó là bước là người thành tâm.

Người thành tâm là người không nghĩ về thầy, không cảm về thầy, mà bắt đầu đồng bộ hoá với bản thể của thầy; không từ đầu không từ tim, nhưng từ chính cốt lõi của sự tồn tại của thầy. Người đó bắt đầu đập rộn ràng, người đó bắt đầu sống theo cùng nhịp điệu, người đó thở theo cách thầy thở. Tim người đó nhảy múa cùng với nhịp đập của tim thầy. Người đó đánh mất bản thân mình, người đó không còn là người ngoài.

Học trò tuyệt đối là người bên ngoài, người thành tâm tuyệt đối là người bên trong, và đệ tử là ở giữa. Đệ tử là ở giữa, trên đường. Nếu người đó dũng cảm người đó sẽ trở thành người thành tâm, nếu người đó hèn nhát người đó sẽ rơi lại và trở thành học trò. Học trò là dễ dàng, bởi vì học trò không nhận biết chút nào về cái thực; người thành tâm là dễ dàng bởi vì người đó trong hoà điệu với cái thực. Khó khăn lớn nhất là khó khăn của đệ tử; người đó ở giữa, bị kéo theo hai hướng. Sớm hay muộn người đó sẽ phải quyết định hoặc là học trò hoặc là người thành tâm; người ta không thể kéo dài trạng thái là đệ tử lâu được, bởi vì đó là trạng thái của khổ, đó là trạng thái của căng thẳng.

Học trò được thảnh thơi bởi vì học trò vô ý thức, người thành tâm được thảnh thơi bởi vì người đó có ý thức, nhưng đệ tử mơ hồ - có ý thức mơ hồ, vô ý thức mơ hồ, đệ tử sống trong thế giới nhập nhoạng, không ngày không đêm, không đây không đó, trong một loại quên lãng.

Anand Bhavo, bạn đang ở trạng thái của việc là đệ tử. Vâng, các thoáng nhìn đã bắt đầu mưa rào lên bạn - bây giờ dũng cảm, lại gần hơn chút ít. Đừng chỉ nhìn vào mắt tôi, nhưng là mắt tôi. Đừng là khán giả, trở thành người tham dự, được tham gia, cam kết. Đừng nhìn vào tôi như ai đó tách rời khỏi bạn. Thời gian đã tới: trở thành không thể tách rời, được hài hoà tới mức bạn không có đồng nhất nào của riêng bạn. Tôi không có đồng nhất nào của riêng tôi. Và khi bạn cũng mất đi sự đồng nhất của bạn chúng ta là hai con số không lại gần hơn và gần hơn và gần hơn, và trong chớp nhoáng của tia chớp hai số không không còn là hai nữa, chúng đã trở thành một.

Kinh nghiệm cực thích đó của tính một là kinh nghiệm đầu tiên về tính thượng đế. Kinh nghiệm đầu tiên về tính thượng đế xảy ra trong việc hoàn toàn là một với thầy.

Thầy chỉ là phương cách, nhớ lấy, thầy chỉ là cửa sổ tới điều thiêng liêng. Lại gần hơn và gần hơn với cửa sổ và cửa sổ biến mất và khung cửa sổ biến mất và toàn thể bầu trời mở ra với mọi vì sao của nó.

Và thế thì bạn sẽ có khả năng thấy tôi trong mắt của các sannyasin của tôi và trong tiếng chim hót và trong màu xanh và đỏ và vàng của cây cối và trong các vì sao và trong các dòng sông - bạn sẽ có khả năng thấy tôi ở mọi nơi.

Ramakrishna sắp chết, một trong những bậc thầy hiện đại vĩ đại nhất. Ông ấy bị ung thư họng. Ông ấy đã trở nên không thể nào ăn được cái gì, ngay cả uống nước cũng không được. Trong ba ngày cuối cùng của cuộc đời mình ông ấy không thể ăn hay uống cái gì cả.

Vivekananda sụp xuống dưới chân ông ấy và nói, 'Nếu thầy cầu xin Thượng đế, chỉ cầu xin thôi - phép màu nhất định xảy ra. Sao thầy không cầu xin ngài dẹp bệnh ung thư này đi? Ít nhất thầy cũng có thể nói, 'Cho phép con ăn và uống.''

Ramakrishna nói, 'Nếu ông nói vậy, ta sẽ làm điều đó. Ta chưa bao giờ nghĩ tới điều đó. Ý niệm của ông cũng hay đấy. Ta sẽ thử.'

Ông ấy nhắm mắt lại. Nước mắt chảy dài từ mắt ông ấy, khuôn mặt ông ấy trở nên đầy ánh sáng. Tất cả những phiền não của ung thư, mọi đau đớn - cái đau không thể chịu nổi - bỗng nhiên biến mất. Ông ấy mở mắt ra. Vivekananda rất hạnh phúc, các đệ tử khác rất hạnh phúc, rằng điều gì đó đã xảy ra, điều gì đó huyền bí. Nhưng họ không nhận biết nó là gì cả, họ tưởng Thượng đế đã dẹp đi bệnh ung thư, hay ít nhất đã cho phép Ramakrishna ăn và uống. Nhưng đó không phải là phép màu thực.

Ramakrishna mở mắt ra, ông ấy cực lạc; trong vài khoảnh khắc ông ấy không thể thốt ra được một lời. Thế rồi ông ấy nói, 'Vivekananda, ông ngu lắm! Ông gợi ý điều ngu xuẩn thế cho ta, và ông biết rằng ta là người đơn giản, một dân làng, cho nên ta chấp nhận. Ta đã nói với Thượng đế, 'Con không thể ăn được, không thể uống được - sao ngài không thể cho phép con ít nhất thì cũng ăn và uống?' 'Và ngài nói, 'Ramakrishna, con có dở hơi không đấy? Bây giờ con có thể ăn từ mồm của các đệ tử con, bây giờ con có thể uống từ cổ họng của người khác - sao con cứ níu bám lấy họng riêng của mình?' Và điều đó đã giải phóng ta khỏi thân thể. Đó là lí do tại sao ta kêu lên trong vui vẻ. Vâng, điều đó là đúng! - mọi cổ họng đều là của ta. Ta có thể ăn, ta có thể uống từ họng người khác.'

Khi ông ấy sắp chết, vợ ông ấy Sharda hỏi ông ấy, 'Em sẽ làm gì khi anh chết?' bởi vì cái chết sắp xảy tới và chắc chắn thế. Ở Ấn Độ khi chồng chết, vợ phải vứt bỏ mọi đồ trang sức. Đặc biệt ở Bengal, vợ chưa bao giờ dùng bất kì quần áo mầu sắc nào, cô ấy chỉ dùng đồ trắng, không trang sức. Sharda hỏi, 'Em sẽ làm gì? Em có phải mặc đồ trắng và không đeo trang sức khi anh đã qua đời không?'

Ramakrishna nói, 'Nhưng anh sẽ chẳng đi đâu cả! Anh sẽ ở đây mà! Em sẽ có thể thấy anh trong mắt những người yêu anh. Em sẽ có thể cảm thấy anh trong gió, trong mưa, trong mặt trời. Con chim tung cánh và bỗng nhiên em sẽ nhớ tới anh, và anh ở đó! Lúc xế chiều đẹp đẽ và em sẽ nhớ tới anh và anh ở đó! Em sẽ không trở thành goá phụ đâu; em đã lấy anh mãi mãi rồi. Cuộc hôn nhân này không phải là của thời gian, nó là của vĩnh hằng.'

Ông ấy đang nói về hôn nhân giữa người thành tâm và thầy. Sharda là người thành tâm, không chỉ là vợ của ông ấy - điều đó là phụ. Và đó là cách nó xảy ra. Ramakrishna chết, Sharda thậm chí chẳng bao giờ khóc; bà ấy tiếp tục cách sống của mình cứ như Ramakrishna vẫn còn sống.

Mọi đêm bà ấy sẽ chuẩn bị giường cho Ramakrishna, như bà ấy vẫn thường chuẩn bị nó trước đây. Bà ấy sẽ mắc màn và bà ấy sẽ nói với Ramakrishna, 'Bây giờ anh đi ngủ đi, quá muộn rồi đấy.' Bà ấy sẽ chuẩn bị thức ăn mà ông ấy thường thích, bà ấy sẽ đem món thali, sẽ ngồi bên cạnh ông ấy và nói với Ramakrishna, 'Anh nhìn món em đã chuẩn bị cho anh đây.'

Mọi người hay nghĩ rằng bà ấy đã phát điên. Không, bà ấy không điên. Mọi người điên. Bà ấy đã hiểu ra vấn đề. Khi bà ấy chết, lời cuối cùng của bà ấy là... bà ấy nói cho mọi đệ tử đã bắt đầu yêu mến bà ấy như thầy của họ, trong sự vắng bóng của Ramakrishna - họ bắt đầu kêu và khóc - bà ấy nói, 'Đợi đã, các ông đang làm gì vậy? Các ông đã quên điều Ramakrishna nói với ta sao? Rằng ông ấy không đi đâu cả? Ta cũng chẳng đi đâu cả. Cảm thấy phúc lạc, cảm thấy hạnh phúc rằng ta cũng được tự do với thân thể. Hân hoan bởi vì bây giờ ta có thể tan chảy vào trong Ramakrishna, vào trong tính phổ quát của ông ấy.'

Đây là trạng thái của người thành tâm. Nhưng là đệ tử không có nghĩa là thành tựu. Nó là một bước cần thiết hướng tới việc là người thành tâm.

Anand Bhavo, thêm một bước nữa đi - thế thì bạn sẽ không nói, 'Tôi đang nhìn vào trong mắt thầy,' bạn sẽ nói, 'Tôi đang nhìn qua mắt thầy.' Thế thì bạn trở thành mắt tôi, thế thì bạn không đứng ngoài, bạn đứng bên trong tôi và bạn bắt đầu nhìn sự tồn tại như tôi nhìn nó. Và thế thì có biến chuyển lớn lao, siêu việt lớn lao, khải lộ lớn lao...

Câu hỏi thứ hai:

Thưa thầy kính yêu,

Thầy thường xuyên nói về ngạc nhiên và về tình yêu. Việc ở trong trạng thái kính nể và hồn nhiên như trẻ thơ có quan hệ thế nào với việc ở trong trạng thái của yêu?

Anand Nur, ngạc nhiên và kính nể là những phẩm chất tâm linh lớn lao nhất đấy. Ngạc nhiên ngụ ý bạn vận hành từ trạng thái không biết. Người thông thái chưa bao giờ cảm thấy ngạc nhiên; người đó không có khả năng cảm thấy ngạc nhiên bởi vì người đó nghĩ người đó đã biết. Người đó biết tất cả những câu trả lời ngu xuẩn, người đó có thể biết toàn bộ cuốn Bách khoa từ điển Encyclopedia Britannica; do đó mọi câu hỏi đều đã được trả lời trong tâm trí người đó. Khi một câu hỏi tới mức không có câu trả lời cho nó, tới mức nó là không thể trả lời được; không chỉ hôm nay, mà cho mãi mãi; không phải là nó không còn không được biết, mà nó là không thể biết - khi người ta đương đầu với cái không thể biết được, cái không thể trả lời được, người ta kinh nghiệm sự ngạc nhiên. Người ta ở trong trạng thái kính nể, cứ dường như tim dừng đập, cứ dường như bạn không thở vào một khoảnh khắc.

Kinh nghiệm sự ngạc nhiên là tới mức mọi thứ dừng lại. Toàn thể thế giới dừng lại; thời gian dừng lại, tâm trí dừng lại, bản ngã dừng lại. Trong một khoảnh khắc bạn lại là đứa trẻ, ngạc nhiên về bướm và hoa và cây và đá cuội trên bãi biển, và vỏ sò - ngạc nhiên về từng thứ và mọi thứ, bạn lại là đứa trẻ.

Và khi bạn có thể ngạc nhiên và có thể cảm thấy cái đẹp mênh mông của sự tồn tại cái chỉ có thể được cảm thấy trong kính nể, khi bỗng nhiên bạn bị sự tồn tại xâm chiếm, bị tràn ngập, bạn có thể nhảy múa, bạn có thể mở hội khoảnh khắc đó, bạn có thể nói 'Aha!' và bạn không biết cái gì khác để nói, không lời, chỉ một dấu chấm than...!

Người thông thái sống với dấu hỏi còn người của kính nể và ngạc nhiên sống với dấu chấm than. Mọi thứ đều cực kì sâu sắc và sâu lắng tới mức không thể nào biết được nó. Tri thức là không thể được. Khi điều này được kinh nghiệm thế thì toàn thể năng lượng của bạn lấy bước nhảy, bước nhảy lượng tử, từ tâm trí vào trái tim, từ việc biết vào việc cảm. Khi không có khả năng nào cho việc biết, năng lượng của bạn không đi theo chiều hướng đó thêm nữa.

Khi bạn đã nhận ra rằng không có khả năng nào cho việc biết, rằng điều bí ẩn sẽ vẫn còn là bí ẩn, rằng nó không thể bị giải bí ẩn đi, năng lượng của bạn bắt đầu đi vào chiều hướng mới - chiều hướng của trái tim. Đó là lí do tại sao tôi nói tình yêu có quan hệ với ngạc nhiên và kính nể, với sự hồn nhiên như trẻ thơ. Khi bạn không bị ám ảnh bởi tri thức bạn trở thành đáng yêu. Người thông thái không đáng yêu, người theo cái đầu không đáng yêu; ngay cả khi họ yêu, họ chỉ nghĩ rằng họ yêu. Tình yêu của họ cũng tới qua đầu họ. Và đi qua đầu, tình yêu mất mọi cái đẹp của nó, nó trở thành xấu. Người theo cái đầu là tính toán; số học là cách thức của họ.

Yêu nhảy vào trong sự tồn tại sống động một cách mạo hiểm mà không tính toán. Cái đầu nói, 'Nghĩ trước khi nhảy,' còn trái tim nói, 'Nhảy trước khi nghĩ.' Cách thức của chúng là đối lập hoàn toàn.

Người thông thái trở nên ngày một ít đáng yêu hơn. Người đó có thể nói về yêu, người đó có thể viết các chuyên luận về yêu, người đó có thể hỏi ý kiến các tiến sĩ, tiến sĩ văn chương về luận án của mình về yêu, nhưng người đó chẳng biết gì về yêu cả. Người đó đã không kinh nghiệm nó! Nó là chủ đề mà người đó đã từng nghiên cứu, nó không phải là chuyện người đó đang sống.

Bạn hỏi tôi, Nur này, 'Thưa thầy kính yêu, thầy nói thường xuyên về ngạc nhiên và kính nể...'

Vâng, tôi bao giờ cũng nói về ngạc nhiên và kính nể cùng nhau, bởi vì chúng là hai mặt của cùng một đồng tiền. Và bạn sẽ phải học bắt đầu từ ngạc nhiên bởi vì xã hội đã làm cho bạn thành người thông thái. Trường học, cao đẳng, đại học - xã hội đã tạo ra bộ máy lớn lao để làm cho bạn thành thông thái. Và bạn càng chất vào mình nhiều tri thức, năng lượng yêu của bạn càng ít tuôn chảy. Có nhiều khối chắn do tri thức tạo ra, nhiều tảng đá trên con đường của tình yêu, và không tồn tại thể chế nào trên thế giới nơi bạn được giúp đỡ để đáng yêu, nơi tình yêu của bạn được nuôi dưỡng.

Đó là ý niệm của tôi về đại học thực, đó là điều tôi muốn tạo ra ở đây. Tất nhiên nó sẽ vẫn còn không được chính phủ thừa nhận, nó sẽ không được các đại học khác thừa nhận. Và tôi có thể hiểu được - nếu họ thừa nhận nó, điều đó sẽ làm cho tôi ngạc nhiên. Việc không thừa nhận nó của họ thực sự là việc thừa nhận nó - thừa nhận rằng nó là một loại thể chế khác toàn bộ, nơi mọi người không được tạo ra là người thông thái mà người đáng yêu.

Nhân loại đã sống với tri thức hàng thế kỉ, và đã sống theo cách rất xấu. D.H. Lawrence có lần đã đề nghị rằng nếu trong một trăm năm mọi đại học và cao đẳng và trường học đều bị đóng cửa, nhân loại sẽ được lợi vô cùng.

Tôi đồng ý toàn bộ với ông ấy. Hai người này, Friedrich Nietzsche và D.H. Lawrence, đều là những người tuyệt vời. Không may là họ đã được sinh ra ở phương Tây; do đó họ không nhận biết về Lão Tử hay Trang Tử, về Phật, về Bồ đề đạt ma, về Rinzai, về Basho, về Kabir, về Meera. Điều không may là họ chỉ biết tới truyền thống Do Thái và Ki tô giáo. Và họ bị xúc phạm rất nhiều bởi toàn thể cách tiếp cận Do Thái và Ki tô giáo tới cuộc sống. Nó rất hời hợt.

Friedrich Nietzsche thường kí tên mình, 'Chống- Christ, Friedrich Nietzsche.' Đầu tiên ông ấy viết 'Chống-Christ.' Ông ấy không thực sự chống-Christ - tất nhiên là chống người Ki tô giáo, bởi vì trong một trong những khoảnh khắc lành mạnh hơn của mình ông ấy đã nói rằng người Ki tô giáo đầu tiên và cuối cùng đã bị đóng đinh - người đó là Jesus Christ, người đầu tiên và cuối cùng.

Nhưng trong tên ông ấy cái gì đó tuyệt đối sai đang tồn tại, và cái ngày Christ bị người Do Thái phủ nhận họ trở thành sai. Kể từ cái ngày xấu xa đó họ đã không sống đúng. Làm sao bạn có thể sống đẹp nếu bạn bác bỏ cực đỉnh riêng của mình? Điều Moses đã bắt đầu, một hiện tượng đẹp, đã đi tới cực đỉnh trong Jesus Christ, và người Do Thái đã bác bỏ Jesus Christ. Chính ngày đó họ đã bác bỏ việc nở hoa riêng của họ, hương thơm riêng của họ. Kể từ ngày đó họ đã không sống đúng.

Và những người theo Jesus đã tạo ra cái gì đó tuyệt đối chống lại Jesus. Nếu ông ấy quay lại ông ấy sẽ kinh tởm, ghê tởm, khi thấy Vatican và giáo hoàng và tất cả những điều đang diễn ra nhân danh Christ. Cảm giác riêng của tôi là... ai đó đã hỏi tôi, 'Jesus đã hứa quay lại - ông ấy có quay lại không?'

Tôi bảo người đó, 'Nếu ông ấy quay lại vào lúc này, ông sẽ không cần đóng đinh ông ấy đâu - ông ấy sẽ tự tử thôi! Chỉ thấy những người Ki tô giáo sẽ là đủ - đủ để tự tử. Do đó cảm giác của tôi là ở chỗ ông ấy sẽ không tới. Một lần là đủ rồi, hai lần sẽ quá nhiều.'

Nhưng hai người này, Nietzsche và Lawrence, đã bị hiểu lầm nhiều lắm ở phương Tây. Họ cũng đã nêu ra các lí do cho việc bị hiểu lầm; họ bất lực, họ đã dò dẫm trong bóng tối. Tất nhiên hướng của họ là đúng; giá mà họ ở phương Đông họ đã trở thành phật. Họ có tiềm năng - tiềm năng lớn lao, sáng suốt lớn lao. Tôi đồng ý với họ ở nhiều điểm.

D.H. Lawrence rất chống lại cái gọi là giáo dục của bạn - nó không phải là giáo dục, nó là giáo dục lầm. Giáo dục thực chỉ có thể dựa trên tình yêu, không dựa trên tri thức. Giáo dục thực không thể là tiện dụng, giáo dục thực không thể là của bãi chợ. Không phải là giáo dục thực sẽ không cho bạn tri thức; trước hết, giáo dục thực sẽ chuẩn bị trái tim của bạn, tình yêu của bạn, và thế rồi bất kì tri thức nào được cần tới để trải qua cuộc sống sẽ được trao cho bạn, nhưng đó sẽ là cái phụ. Và nó sẽ không bao giờ áp đảo; nó sẽ không có giá trị nhiều hơn tình yêu.

Và bất kì khi nào có khả năng của bất kì xung đột nào giữa tình yêu và tri thức, giáo dục thực sẽ giúp bạn sẵn sàng vứt bỏ tri thức và đi cùng tình yêu của bạn; nó sẽ cho bạn lòng dũng cảm, nó sẽ cho bạn phiêu lưu. Nó sẽ cho bạn không gian để sống, chấp nhận mọi rủi ro, bất an; nó sẽ giúp bạn sẵn sàng hi sinh bản thân mình nếu tình yêu đòi hỏi nó. Nó sẽ đặt tình yêu không chỉ trên tri thức mà thậm chí còn trên cuộc sống, bởi vì cuộc sống là vô nghĩa nếu không có tình yêu. Tình yêu không có cuộc sống vẫn có nghĩa; cho dù thân thể bạn chết đi nó vẫn không tạo ra khác biệt gì cho năng lượng yêu của bạn. Nó liên tục, nó vĩnh hằng, nó không phải là hiện tượng thời gian.

Để có trái tim yêu thương, bạn cần cái đầu ít tính toán. Để có khả năng yêu thương bạn cần có khả năng ngạc nhiên. Đó là lí do tại sao, Nur này, tôi bao giờ cũng nói rằng kính nể và hồn nhiên như trẻ con có quan hệ sâu sắc với năng lượng có tên tình yêu. Thực ra chúng là những cái tên khác nhau cho cùng một điều.


Câu hỏi thứ ba:

Thưa thầy kính yêu,

Thầy đã nói hôm nay về không làm điều sai. Cái gì là đúng và cái gì là sai?

Prem Murti, từ trước tới nay đúng và sai đã được mọi tôn giáo quyết định cứ dường như chúng là những thực thể cố định; làm cái này, không làm cái kia, đây là tội lỗi, kia là đức hạnh. Đó không phải là cách tiếp cận đúng tới thực tại, bởi vì cái là đúng hôm nay có thể sai ngày mai, cái là sai hôm qua có thể đúng hôm nay.

Cuộc sống là một luồng, nó là chuyển động thường hằng, nó là thay đổi. Ngoại trừ thay đổi, mọi thứ khác đều thay đổi. Cho nên tôi không thể cho bạn những ý niệm cố định về cái gì là đúng và cái gì là sai. Tôi không thể gây hại đó cho bạn được. Mọi tôn giáo cổ đều đã làm điều đó; có thể nó được cần tới bởi vì nhân loại đã trong trạng thái rất chưa trưởng thành. Nhưng bây giờ con người đã đi tới tuổi trưởng thành. Trẻ nhỏ phải được bảo cho không làm điều này...

Một cậu nhỏ được một thầy ở trường hỏi - đó là ngày học đầu của cậu ta - 'Tên con là gì?'

Nó nói, 'Đừng Johnny.'

Thầy giáo đâm phân vân, thầy nói, 'Đừng Johnny sao? Chưa bao giờ nghe thấy cái tên như thế trước đây.'

Nó nói, 'Đây là tên con, bởi vì bất kì điều gì con làm mẹ con đều nói, 'Đừng Johnny!' Đây phải là tên con.'

Nó đã được bảo nhiều lần, 'Đừng, Johnny! Đừng, Johnny!' tới mức nó nghĩ đó là tên nó.

Nhưng điều đó có thể được tha thứ khi có liên quan tới trẻ con bởi vì bạn không thể đi vào giải thích sâu sắc được; bạn không thể giải thích cho chúng các lí do, động cơ. Bạn phải cho chúng các hướng dẫn đơn giản, rõ ràng; bằng không chúng sẽ không thể nào tuân theo được.

Nhân loại cũng trong trạng thái như thế trong hàng thế kỉ, nhưng bây giờ tất cả những lời răn đó có vẻ rất ngu xuẩn. Chúng đã có liên quan một ngày nào đó, chúng không còn liên quan nữa; chúng là những cái xác chúng ta đang mang. Chúng không có tác dụng thêm nữa, chúng không giúp cho bất kì ai - chúng cản trở mọi người.

Cho nên đừng hỏi tôi, Prem Murti, cái gì đúng và cái gì sai - điều đó còn tuỳ. Tất cả những điều tôi có thể nói với bạn, tất cả những điều tôi muốn bạn nhận biết là: bất kì hành động nào trong nhận biết cũng đều đúng và bất kì hành động nào được làm trong vô nhận biết cũng đều sai. Hành động không thành vấn đề khi có liên quan tới tôi, khi có liên quan tới cách tiếp cận của tôi, khi có liên quan tới triết lí cuộc sống của tôi; hành động không thành vấn đề, cái thành vấn đề là ý thức của bạn. Bạn hành động một cách vô ý thức hay có ý thức?

Cho nên câu hỏi thực là cái gì đó ở bên trong bạn, không phải là điều bạn làm mà bạn là ai. Tôi đổi toàn thể sự nhấn mạnh từ khách quan sang chủ quan, từ bên ngoài sang bên trong. Nếu bạn làm nó một cách có ý thức thì bạn đúng - và đó bao giờ cũng là cách tiếp cận của những người đã chứng ngộ.

Một thầy vĩ đại, Nagarjuna, được một kẻ trộm lớn hỏi... Kẻ trộm này đã nổi tiếng khắp vương quốc và anh ta cũng láu lỉnh, thông minh tới mức anh ta chưa bao giờ bị bắt cả. Mọi người đều biết - anh ta thậm chí đã từng đánh cắp từ kho báu của nhà vua, nhiều lần rồi - nhưng họ không thể nào bắt được anh ta. Anh ta lảng tránh cực giỏi, một nghệ nhân bậc thầy.

Anh ta hỏi Nagarjuna, 'Thầy có thể giúp được tôi không? Tôi có thể gạt bỏ được việc ăn trộm của mình không? Tôi cũng có thể trở nên im lặng và phúc lạc như thầy không?' Điều đó đã xảy ra trong hoàn cảnh nào đó.

Nagarjuna là nhà giả kim thuật vĩ đại nhất mà phương Đông đã từng sinh thành ra. Ông ấy thường sống trần, chỉ với một bình bát ăn xin, bình bát ăn xin bằng gỗ, nhưng các vua tôn thờ ông ấy, các hoàng hậu tôn thờ ông ấy. Ông ấy tới kinh đô và hoàng hậu chạm chân ông ấy và nói, 'Tôi cảm thấy rất bị xúc phạm bởi bình bát gỗ của thầy. Thầy là thầy của các thầy; hàng trăm vua và hoàng hậu là tín đồ của thầy. Tôi đã chuẩn bị một bình bát vàng cho thầy, được nạm bằng kim cương đẹp, dát ngọc lục bảo. Xin đừng bác bỏ nó - điều đó sẽ làm thương tổn tôi nhiều lắm, điều đó sẽ làm đau lòng tôi nhiều lắm. Trong ba năm các nghệ sĩ lớn đã làm việc trên nó, bây giờ nó sẵn sàng rồi.'

Bà ấy sợ rằng Nagarjuna có thể nói, 'Ta không thể chạm vào vàng được, ta đã từ bỏ thế giới này.' Nhưng Nagarjuna đã không nói gì như thế cả; ông ấy nói, 'Được rồi! Hoàng hậu có thể giữ bình bát của ta, đưa cho ta bình bát vàng.'

Ngay cả hoàng hậu cũng bị choáng chút ít. Bà ấy cứ nghĩ rằng Nagarjuna sẽ nói, 'Ta không thể chấp nhận nó được.' Bà ấy muốn ông ấy chấp nhận nó, nhưng dầu vậy, sâu trong vô thức của bà ấy ở đâu đó là truyền thống Ấn Độ cổ rằng người đã thức tỉnh phải sống trong nghèo khó, trong không tiện nghi, cứ dường như không tiện nghi và nghèo khó có cái gì đó tâm linh trong chúng. Chẳng có gì tâm linh trong chúng cả.

Nagarjuna nói đồng ý nhận. Ông ấy thậm chí không nhìn chiếc bình bát vàng. Ông ấy đi mất. Tên trộm thấy Nagarjuna đi ra ngoài kinh đô, bởi vì ông ấy đang ở trong ngôi đền mục nát trên bờ bên kia của con sông. Tên trộm nói, 'Một vật quí giá thế mình chưa bao giờ thấy - bao nhiêu là kim cương, bao nhiêu là ngọc lục bảo, bao nhiêu là vàng. Mình đã thấy nhiều thứ đẹp trong đời mình nhưng chưa bao giờ thấy thứ nào như thế, và làm sao người trần trụi này giữ nó được, và làm sao ông ấy bảo vệ nó được? Bất kì ai cũng sẽ có khả năng lấy nó đi từ ông ấy, vậy sao không phải mình?'

Tên trộm đi theo Nagarjuna. Nagarjuna nghe thấy tiếng bước chân anh ta, ông ấy biết ai đó đang tới sau mình. Nagarjuna về tới ngôi đền. Ngôi đền này tuyệt đối đổ nát, không mái, không cửa; chỉ vài bức tường còn lại. Ông ấy đi vào bên trong căn phòng không mái, không cửa, không cửa sổ.

Tên trộm nói, 'Làm sao ông ta bảo vệ được thứ quí giá thế? Vấn đề chỉ là vài giờ thôi.' Anh ta ngồi bên ngoài cửa sổ, ẩn đằng sau bức tường.

Nagarjuna ném chiếc bình bát ra ngoài cửa sổ. Tên trộm rất đỗi phân vân. Chiếc bình bát rơi ngay gần chân anh ta. Anh ta bị phân vân: 'Người này làm gì thế nhỉ?' Anh ta không thể tin được vào mắt mình, anh ta cũng bị choáng. Anh ta đứng dậy - cho dù anh ta là kẻ trộm, anh ta là kẻ trộm bậc thầy và anh ta cũng có nhân phẩm nào đó. Anh ta cám ơn Nagarjuna. Anh ta nói, 'Thưa ngài, tôi phải bày tỏ lòng biết ơn của mình. Nhưng thầy là người hiếm hoi - ném đồ quí giá thế đi cứ như nó chẳng là gì cả. Tôi có thể vào và chạm chân thầy được không?'

Nagarjuna nói, 'Vào đi! Thực ra ta đã ném bình bát để cho ông có thể vào được.'

Tên trộm không thể nào hiểu nổi điều ông ấy vừa nói; anh ta bước vào, anh ta nhìn Nagarjuna - im lặng của ông ấy, an bình của ông ấy, phúc lạc của ông ấy - anh ta bị tràn ngập. Anh ta nói, 'Tôi cảm thấy ghen tị với thầy. Tôi chưa bao giờ bắt gặp người như thầy. So với thầy, tất cả những người khác đều là ngợm. Thầy hoà hợp làm sao! Đã đi ra ngoài thế giới làm sao! Liệu có khả năng nào cho tôi nữa, một ngày nào đó cũng đạt tới sự hoà hợp như vậy, tính cá nhân như vậy, từ bi như vậy và không gắn bó vào mọi sự như vậy không?'

Nagarjuna nói, 'Điều đó là có thể đấy. Đó là tiềm năng của mọi người.'

Nhưng kẻ trộm nói, 'Đợi đã! Để tôi kể cho thầy một điều. Nhiều lần tôi đã tới nhiều thánh nhân và họ tất cả đều biết tôi và họ nói, 'Đầu tiên anh chấm dứt ăn trộm, thế thì bất kì cái gì khác cũng đều có thể. Không chấm dứt ăn trộm anh không thể trưởng thành về tâm linh được.' Cho nên xin đừng ra điều kiện đó bởi vì điều đó tôi không thể làm được. Điều đó là không thể được. Tôi đã thử và tôi đã thất bại nhiều lần rồi. Dường như đó là bản tính của tôi - tôi phải tiếp tục ăn trộm, cho nên đừng nhắc tới điều đó. Để tôi nói trước cho ông để ông không làm điều đó thành điều kiện.'

Nagarjuna nói, 'Điều đó đơn giản chỉ ra anh chưa bao giờ gặp thánh nhân nào trước đây. Những người đó tất cả đều phải đã là cựu kẻ trộm; bằng không sao họ phải lo nghĩ về việc ăn trộm của anh? Cứ ăn trộm đi và làm mọi thứ thật thiện nghệ nhất có thể được. Là bậc thầy về bất kì nghệ thuật nào cũng đều tốt.'

Tên trộm thậm chí còn bị choáng hơn: 'Đây là loại người gì thế nhỉ?' Và anh ta nói, 'Thế thì thầy gợi ý cái gì? Cái gì đúng, cái gì sai?'

Ông ấy nói, 'Ta không nói cái gì là đúng hay cái gì là sai. Làm một điều: nếu ông muốn ăn trộm, thì cứ ăn trộm đi - nhưng ăn trộm một cách có ý thức vào. Tối nay đi đi, vào nhà một cách rất tỉnh táo, mở cửa, mở khoá, nhưng rất có ý thức. Và thế rồi nếu ông có thể lấy trộm được, thì lấy trộm, nhưng vẫn còn ý thức. Và tường trình lại cho ta sau bẩy ngày.'

Sau bẩy ngày tên trộm tới, cúi mình, chạm chân Nagarjuna và nói, 'Bây giờ xin điểm đạo cho tôi vào sannyas.'

Nagarjuna nói, 'Sao thế? Về việc ăn trộm của ông thì sao?'

Anh ta nói, 'Thầy bợm lắm! Tôi đã thử hết cách rồi: nếu tôi ý thức, tôi không thể ăn trộm được; nếu tôi ăn trộm tôi vô ý thức. Tôi chỉ có thể ăn trộm khi tôi vô ý thức. Khi tôi ý thức toàn thể sự việc dường như ngu xuẩn thế, vô nghĩa thế. Tôi đang làm gì? Để làm gì? Ngày mai tôi có thể chết. Và sao tôi cứ tích luỹ của cải? Tôi có nhiều hơn tôi cần; thậm chí nhiều thế hệ cũng vẫn đủ. Nó có vẻ vô nghĩa tới mức tôi chấm dứt ngay lập tức. Trong bẩy ngày tôi đã đi vào trong nhiều nhà và bước ra với tay trống rỗng. Và việc có ý thức tuyệt diệu thế. Tôi đã nếm trải nó lần đầu tiên, và đó chỉ là một nếm trải nhỏ - bây giờ tôi có thể quan niệm được thầy tận hưởng nhiều thế nào, thầy phải mở hội nhiều thế nào. Bây giờ tôi biết rằng thầy là vua thực - trần trụi đấy, nhưng thầy là vua thực. Bây giờ tôi biết rằng thầy có vàng thực và chúng tôi đang chơi với vàng giả.'

Tên trộm trở thành đệ tử của Nagarjuna và đã đạt tới phật tính.

Tôi không thể nói với bạn cái gì là đúng hay sai. Tôi chỉ có thể nói một điều với bạn: ý thức - điều đó là đúng. Đừng vô ý thức bởi vì điều đó là sai. Và thế thì bất kì cái gì bạn làm trong ý thức cũng đều đúng.

Nhưng mọi người đang sống trong vô ý thức. Và để tôi bảo bạn: trong vô ý thức bạn có thể nghĩ mình đang làm điều gì đó đúng, nhưng nó không thể đúng được. Từ vô ý thức, đức hạnh không thể nở hoa được; nó có thể dường như đức hạnh thôi nhưng nó không thể thế được. Sâu bên dưới nó sẽ vẫn là cái gì đó sai. Nếu bạn vô ý thức và bạn cho người nghèo tiền, quan sát: bản ngã của bạn được làm mạnh thêm. Đây là tội lỗi.

Bạn vô ý thức và bạn cứ phục vụ mọi người, những người ốm; bạn mở bệnh viện hay trường học - nhưng bất kì điều gì bạn làm cũng cho bạn một bản ngã rất tinh vi, bản ngã đạo đức giả. Và bản ngã đạo đức giả nghĩa là chất độc đạo đức giả - nhưng chất độc là chất độc! Và chất độc đạo đức giả còn nguy hiểm hơn nhiều bởi vì nó không bị pha trộn; nó là chất độc thuần khiết. Do đó người thường chịu khổ từ bản ngã rất thô, nó bị pha trộn.

Tôi đã nghe:

Mulla Nasruddin muốn tự tử. Anh ta tới người bán thuốc, mua một lượng lớn chất độc, uống nó, và nằm đợi trong giường cả đêm: 'Bây giờ mình sắp chết rồi, bây giờ mình sắp chết rồi.' Anh ta mở mắt ra và nhìn đồng hồ: 'Mười hai giờ... hai giờ... bốn giờ... sáu giờ... và trẻ con lục tục chuẩn bị đi học, và vợ đang chuẩn bị bữa sáng - và mình vẫn chưa chết sao? Hay mình chết rồi và trở thành ma? Có chuyện gì thế nhỉ?' Anh ta tự cấu mình và cảm thấy đau; anh ta nói, 'Không, mình vẫn còn trong thân thể.'

Anh ta chạy tới nhà bán thuốc; anh ta nói, 'Ông đã đưa tôi cái loại thuốc độc gì vậy? Một lượng như thế đáng phải giết chết ít nhất mười người, và tôi đã uống tất cả mà tôi vẫn sống sờ sờ ra đây.'

Người bán thuốc nói, 'Tôi có thể làm được gì - ở Ấn Độ ông không thể tìm được cái gì thuần khiết cả. Mọi thứ đều bị pha trộn, từ sữa tới chất độc. Tôi có thể làm được gì nào?'

Bản ngã bình thường bị pha trộn với nhiều thứ khác. Nhưng bản ngã tôn giáo, bản ngã của thánh nhân, của mahatma, của hiền nhân, là không bị pha trộn - nó là chất độc thuần khiết. Chỉ một giọt của nó là đủ.

Cho nên nếu bạn làm điều tốt một cách vô ý thức, chúng sẽ tạo ra thêm bản ngã trong bạn. Và chỉ trên bề mặt chúng mới có vẻ tốt; chúng sẽ gây hại cho những người mà bạn đối xử tốt với họ. Đừng bao giờ là người làm điều tốt, tránh điều đó ra. Nhiều điều hại đã được thực hiện bởi công bộc của bạn, bởi các nhà truyền giáo, những người cải cách xã hội, hơn bởi bất kì ai khác.

Điều nền tảng nhất là phải ý thức và thế rồi hành động, và thế thì bất kì điều gì bạn làm cũng sẽ đúng. Nhưng mọi người đều vô ý thức.

'Không, em sẽ không đi tới rạp phim với anh đâu!' Jackie nói. 'Em biết kiểu anh rồi! Ngay khi chúng ta ngồi vào chỗ, anh sẽ bắt đầu nghịch nút áo cánh của em bằng tay này và kéo váy em bằng tay kia, để sẵn sàng sỗ sàng!'

'Không, anh sẽ không làm đâu,' Patrick phản đối. 'Mọi người ngồi sau chúng ta có thể thấy điều anh định làm.'

'Vâng, điều đó đúng,' Jackie nói, 'cho nên có thể tốt hơn cả là chúng ta đến đó sớm vào và lấy chỗ ngồi ở hàng cuối.'

Điều bạn muốn làm, và điều bạn nói, và điều bạn thực sự làm, là những điều khác toàn bộ. Bạn có thể đang làm điều gì đó mà bạn không bao giờ muốn làm, bạn có thể không làm điều gì đó mà bạn bao giờ cũng muốn làm. Bạn sống một cuộc sống tinh thần phân liệt, bị phân chia thành vô ý thức và ý thức. Và từ sự phân liệt này bất kì cái gì xảy ra cũng đều sai.

Biff thuộc kiểu người im lặng, mạnh mẽ. Anh ta bước vào quán cà phê nhà trường, gọi cốc cà phê, và nheo mắt với cô hầu bàn, một người lớn tuổi mắt xanh cuốn hút. Cô ta mỉm cười.

'Muốn cưỡi ngựa không?' anh ta hỏi. 'Có chứ, em sẽ sẵn sàng trong năm phút.'

Thế là họ vào xe và anh ta lái ra đường cao tốc. Anh ta rẽ vào một con đường rồi anh ta lái xuống một đường nhỏ. Con đường nhỏ này dẫn tới lối cụt và anh ta dừng xe lại và tắt động cơ đi.

Quay về phía cô ấy, anh ta thốt ra lời đầu tiên, 'Này, điều đó thì sao?'

Cô hầu bàn gật đầu.

'Được,' cô ấy nói, 'anh nói át cả em!'

Quan sát điều bạn làm, tại sao bạn làm nó, điều bạn nói, tại sao bạn nói nó. Cứ quan sát hành động của bạn, ý nghĩ của bạn, và dần dần, dần dần một ý thức lớn lao nảy sinh trong bạn. Và thế thì bạn có thể thấy mọi trò chơi bạn đã từng chơi với người khác, và không chỉ với người khác mà với bản thân mình nữa.

Bệnh nhân, mà bác sĩ đang viết vào sổ khám bệnh, nói cô ấy là phụ nữ không lấy chồng. Thế là, khi ông ấy viết tới chỗ trống để liệt kê số con, ông ấy tự động viết 'không.'

'Nhưng, bác sĩ ơi,' cô ấy nói, 'tôi có đứa con gái mười ba tuổi rồi!'

'Tôi tưởng cô bảo tôi là cô là bà cô già?'

'Tôi là bà cô đấy,' cô ấy đáp. 'Nhưng tôi không phải là bà cô bướng bỉnh đâu.'

Bất kì cái gì ý thức cứ giả vờ, vô thức là cội nguồn thực của hành động của bạn, và chừng nào vô thức còn chưa biến mất toàn bộ khỏi bản thể bạn, bạn không thể làm điều đúng được. Chỉ một phần mười của bản thể bạn là ý thức, chín phần mười là vô thức. Vô thức gần như là lục địa bên dưới tầng nước nông bạn gọi là ý thức. Vô thức thúc đẩy bạn. Ý thức chỉ tìm cách hợp lí hoá để làm điều vô thức muốn làm. Ý thức đang phục vụ cho vô thức; đây là tình huống sai. Để vô thức phục vụ cho ý thức - và bạn trở thành một sannyasin.

Đó là điều tính chất sannyas tất cả là gì: làm ý thức ngày một là trung tâm của bản thể bạn, và việc biến đổi ngày một nhiều những chùm vô thức thành ý thức, ngày một đem ánh sáng vào bóng tối bên trong.

Một ngày sẽ tới khi bạn đầy ánh sáng; toàn thể bản thể bạn là ý thức. Thậm chí không một góc nào của bản thể bạn có bóng tối nào về nó - tất cả đều được biết và được kinh nghiệm thấu suốt. Bạn quen thuộc kĩ với bản thân mình, quen thuộc toàn bộ với bản thân mình; thế thì bất kì cái gì bạn làm, Prem Murti này, cũng đều đúng. Đúng là việc nở hoa của ý thức, và sai là việc nở hoa của vô ý thức.


Câu hỏi thứ tư:

Thưa thầy kính yêu,

Sao người Ấn Độ không thể thấy được điều đang xảy ra ở đây?

Sandesh, họ có quá khứ dài, quá khứ rất dài, dài hơn bất kì nước nào khác, dài hơn bất kì giống nòi nào khác. Và quá khứ càng dài, bạn càng định kiến hơn. Người Mĩ là ít định kiến nhất trên thế giới bởi vì người đó không có quá khứ dài, chỉ mới ba trăm năm. Nó không là gì khi so sánh với quá khứ của Ấn Độ.

Mười nghìn năm là tuyệt đối chắc chắn về mặt lịch sử, nhưng Ấn Độ còn tồn tại trước điều đó. Thực ra những người đã đi sâu vào nghiên cứu, họ nói văn hoá Ấn Độ đã tồn tại ít nhất chín mươi nghìn năm hay hơn. Quá khứ dài như vậy làm cho đất nước thành rất già, hoàn toàn già cả. Tâm trí của nó trở nên lắng đọng và tù đọng, nó không thể chấp nhận được cái gì mới, điều đó là rất khó.

Điều là dễ dàng cho người Mĩ là rất khó cho người Ấn Độ. Người Ấn Độ nghĩ mình đã biết rồi; người đó được thông tin rõ rồi, ít nhất cũng về tâm linh, tới mức người đó không cảm thấy rằng người đó phải tới gặp tôi. Người đó chưa bao giờ tới đây, nhưng không tới đây người đó vẫn cứ diễn đạt ý kiến của người đó về tôi. Điều đó là tự nhiên trong nền văn hoá cổ đại, già lão, chết. Và nó là quá khứ rất kìm nén mà Ấn Độ đã trải qua; nó không cho phép tự do.

Tự do chưa bao giờ là mục đích của văn hoá Ấn Độ mà là phục tùng: phục tùng xã hội, phục tùng tôn giáo, phục tùng kinh sách. Và Ấn Độ có ý niệm này rằng tất cả những gì tốt đẹp đều đã xảy ra rồi, thời đại vàng son đã xảy ra rồi. Bây giờ con người không tiến hoá, không tiến bộ - mà suy thoái. Đây là cái gì đó cần được hiểu.

Ở phương Tây ý niệm là ở chỗ con người đang tiến hoá ngày một cao hơn, tiến hoá đang xảy ra, có tiến bộ lớn đang xảy ra. Thời đại vàng son là ở trong tương lai đối với phương Tây.

Với phương Đông, đặc biệt là với Ấn Độ, thời đại vàng son đã qua rồi cả nghìn năm trước; chúng ta đang suy thoái. Chúng ta không đi lên đỉnh cao, chúng ta đang đi xuống thung lũng. Ngày càng nhiều bóng tối sẽ bao quanh chúng ta, ngày càng nhiều chết chóc hơn; con người sẽ trở nên ngày một xấu hơn.

Do đó khi tôi nói về nhân loại mới phương Tây có thể hiểu được tôi; tâm trí Ấn Độ đơn giản cảm thấy lúng túng - tôi đang nói về gì vậy? 'Nhân loại mới, thời đại vàng son trong tương lai sao? Nó đã qua rồi, nó là lịch sử. Chúng ta sẽ không đạt tới thời đại vàng son nào cả trong tương lai đâu; chỉ có cái chết thôi, con người mang định mệnh thế.'

Ấn Độ đã chấp nhận ý niệm này rằng tương lai không là gì ngoài cái chết, tương lai không giữ hi vọng nào. Và tôi mang tới niềm hi vọng mới cho bạn. Tôi cho bạn hứa hẹn mới, tôi báo trước một nhân loại mới. Do đó nó rơi vào những cái tai điếc; điều đó chống lại việc ước định của họ, họ không thể bắc cầu qua lỗ hổng này được, và đó là ước định rất, rất kìm nén.

Ấn Độ đã kìm nén tất cả những cái tự nhiên; nó đã đi vào trong vô thức, nó sôi lên ở đó bên trong. Và tôi đang nói về việc diễn đạt, và Ấn Độ tin vào kìm nén. Ấn Độ tin vào kìm nén - dục, yêu, thân thể, tất cả những cái tự nhiên. Và tôi tin vào diễn đạt, tính sáng tạo. Tôi đang nói ngôn ngữ phi Ấn Độ.

Do đó có hiện tượng lạ này rằng tôi đang sống ở Ấn Độ nhưng tôi không là một phần của Ấn Độ chút nào. Công đồng nhỏ này các sannyasin của tôi là cộng đồng thế giới - nó không phải là đạo tràng Ấn Độ, nó là công xã thế giới. Công xã nhỏ bé này đại diện cho toàn thể nhân loại, không đại diện cho quá khứ mà cho tương lai.

Cho nên tôi nhất định bị hiểu lầm, bị diễn giải nhầm, bị kết án, bị cản trở theo đủ mọi cách. Có hai mươi nhăm vụ kiện chống lại tôi ở toà án. Chính phủ cứ bịa ra mọi loại vụ án chống tôi - một người chưa bao giờ rời khỏi phòng của mình... Tôi có thể phạm phải tội gì? Hai mươi nhăm vụ kiện chống lại một người chưa bao giờ rời khỏi phòng của mình! Nghĩ mà xem - nếu tôi đi ra ngoài, họ sẽ bịa ra ít nhất một nghìn vụ kiện chống lại tôi.

Họ phải được tha thứ bởi lí do đơn giản là họ không thể hiểu được; trong tâm trí riêng của mình họ đang làm điều gì đó rất đúng. Họ nghĩ về tôi như một lực huỷ hoại, và theo một cách nào đó họ cũng đúng: tôi ở đây để phá huỷ toàn thể ước định dù đó là là người Ấn Độ hay người Đức hay người Do Thái, là người Ki tô giáo hay người Mô ha mét giáo hay Phật tử.

Công việc của tôi bao gồm phá huỷ ước định và làm cho con người tự do khỏi mọi ước định. Điều này xảy ra mọi ngày - không chỉ với người Ấn Độ, với người khác nữa.

Một sannyasin mới, Jacob, đã viết một bức thư cho tôi. Anh ấy là người Do Thái, cho nên anh ấy rất bị xúc phạm bởi chuyện cười Do Thái. Bây giờ bạn thậm chí không thể hiểu được khôi hài, bạn trở nên nghiêm chỉnh ngay cả về điều đó, vậy còn nói gì về các vấn đề nghiêm chỉnh? Anh ấy đã trở thành một sannyasin nhưng sâu bên dưới người Do Thái vẫn có đó, sẵn sàng bị xúc phạm. Tôi đang xúc phạm mọi người mà.

Tôi xúc phạm người Đức nhiều như tôi có thể làm, tôi xúc phạm người Do Thái, tôi xúc phạm người Ấn Độ, tôi xúc phạm người Mô ha mét giáo... Tôi sẽ xúc phạm mọi người, bởi vì đó là toàn thể công việc của tôi - lau sạch mọi phân bạn đã từng mang theo. Và điều đó gây tổn thương bởi vì bạn nghĩ nó là cái gì đó rất có giá trị bạn đang mang.

Bây giờ tâm trí Ấn Độ là tâm trí dâm dục nhất trên thế giới, dâm dục nhất bởi vì bị kìm nén nhiều nhất. Người Ấn Độ cứ nhìn những thứ không có đó; người đó phóng chiếu hay người đó bịa ra hay người đó cố gắng vất vả để tìm ra cái gì đó.

Người đàn bà gọi điện xuống người quản lí khách sạn. 'Tôi ở đây trong phòng 5110,' bà ta hét lên một cách giận dữ, 'và tôi muốn ông biết có một người đàn ông bước đi trong phòng bên kia nhìn qua lối đi mà không mặc một mẩu vải nào và chỗ tối của anh ta phơi ra hết.'

'Tôi sẽ phái thám tử nhà lên ngay đây, thưa bà,' người quản lí nói.

Thám tử đi vào phòng người đàn bà này, nhòm qua lối đi, và nói, 'Bà đúng đấy, thưa bà, người đàn ông đó không mặc quần áo, nhưng cửa sổ anh ta che khuất anh ta từ thắt lưng trở xuống chẳng thành vấn đề anh ta ở đâu trong phòng mình.'

'Thế à?' bà ấy kêu ăng ẳng. 'Đứng lên giường ấy!

Đứng lên giường ấy!'

Bà này phải là người Ấn Độ rồi. Nhưng người Ấn Độ ở mọi nơi; họ không chỉ ở trong nước Ấn Độ, họ không bị giới hạn trong nước Ấn Độ, nhớ lấy. Bất kì khi nào mọi người kìm nén, họ là người Ấn Độ. Họ có thể ở Anh, họ có thể ở Italy, họ có thể ở Tây Ban Nha, họ có thể ở bất kì chỗ nào. Tâm trí Ấn Độ dại diện cho tâm trí kìm nén.

Người đàn bà đang gọi điện thoại mà người nghe trả tiền.

'Xin bà nhắc lại tên cho?' thao tác viên điện thoại nói.

'Vâng, Alice. A-L-I-C-E. A là chữ đầu của 'adultery- ngoại tình', L là chữ đầu của 'lust - thèm khát', I là chữ đầu của 'incest-loạn luân', C là chữ đầu của 'copulation-giao cấu', E là chữ đầu của 'erotic- khiêu dâm'...'

Bây giờ, phải nói gì về người đàn bà này? Bà ấy phải đang mang một con quỉ bên trong bản thân mình.

Và đó là tình huống ở Ấn Độ: mọi người đều kìm nén nhiều thế, có nhiều mủ bên trong linh hồn tới mức khi họ nghe hay đọc về tôi là họ cảm thấy đau. Cái đau tới bởi vì họ đang mang những vết thương bên trong bản thân họ. Và nó bao giờ cũng đau nếu bạn đi tới nhà giải phẫu: ông ấy phải nặn mủ ra khỏi vết thương của bạn, chỉ thế thì các vết thương mới có thể lành được. Và tôi là bác sĩ giải phẫu đây, từ bi của tôi không cho phép tôi để bạn như bạn đang đấy. Dù tôi phải tốn phí bất kì cái gì, dù tôi có phải liều bất kì cái gì, tôi quyết tâm phơi bầy vết thương của bạn cho bạn - bởi vì một khi bạn biết vết thương của mình, một khi vết thương của bạn được phơi bầy ra, được đưa lên bề mặt, chúng lập tức bắt đầu lành. Và Ấn Độ đang mang vết thương lớn: nó không chỉ là cái nghèo vật lí ngày nay, nó là cái nghèo tâm linh nữa. Và khi tôi nói điều này nó gây đau nhiều nhất, bởi vì đó là chỗ trú ngụ cho bản ngã Ấn Độ rằng, 'Chúng ta là người tâm linh.' Và kinh nghiệm riêng của tôi là ở chỗ chẳng có tính tâm linh nào còn lại.

Vâng, thỉnh thoảng vị phật có xảy ra ở Ấn Độ - và nhiều chư phật đã xảy ra ở Ấn Độ hơn bất kì chỗ nào khác, điều đó đúng - nhưng quần chúng Ấn Độ, đám đông, lại không có tính tâm linh, chẳng có chút nào. Thực ra bởi vì hiện tượng này của chư phật, quần chúng Ấn Độ đã trở thành người đạo đức giả. Họ đã nghe những giáo huấn vĩ đại - họ không thể đi theo những giáo huấn đó, bởi vì theo chúng cần nỗ lực lớn lao. Họ không thể theo được nhưng họ có thể giả vờ; điều đó rẻ và dễ dàng. Cho nên người Ấn Độ đã trở thành giả.

Larson đưa Charlotte lái xe đi vào vùng quê và đỗ xe ở một quãng đường hẻo lánh.

'Nếu anh định gạ gẫm em,' Charlotte nói, 'em sẽ la lên đấy!'

'Điều đó thì ích gì?' Larson hỏi. 'Chẳng có ma nào quanh đây hàng dặm đường.'

'Em biết,' Charlotte nói, 'nhưng em muốn thoả mãn lương tâm em trước khi em bắt đầu có thời gian vui thú.'

Người Ấn Độ cũng muốn có thời gian vui thú, nhưng trước hết họ muốn thoả mãn lương tâm họ, cho nên họ la hét với tôi. Nhưng dần dần, dần dần những người Ấn Độ nhạy cảm thông minh đang lại gần tôi hơn. Điều đó cần thời gian, nhưng những người nhạy cảm nhất nhất định trở thành một phần của phật trường của tôi.

Và người Ấn Độ chịu đựng phức cảm tự ti bởi vì trong một nghìn năm họ đã từng là nô lệ. Rabindranath chưa bao giờ được ca ngợi ở Ấn Độ - bị kết án, bị chỉ trích nhiều nhất có thể được bởi vì ông ấy là người rất khẳng định cuộc sống. Ông ấy thậm chí có dũng cảm để phê bình Phật theo cách riêng của ông ấy. Ông ấy chống lại toàn thể truyền thống phủ định của Ấn Độ.

Trong một trong các bài thơ của mình ông ấy nói:

Sau mười hai năm Phật trở về nhà - ông ấy đã trở nên chứng ngộ. Ông ấy có hàng nghìn tín đồ; một cách tự nhiên ông ấy nhớ tới vợ mình, con mình, bố già của mình, và ông ấy muốn giúp họ. Ông ấy muốn chia sẻ điều ông ấy đã đạt tới, cho nên ông ấy quay về cung điện của mình. Yashodhara, vợ ông ấy, người mà ông ấy đã bỏ rơi trong mười hai năm trước, tự nhiên rất giận.

Trong mười hai năm cô ấy đã tích lũy giận dữ, nhưng người vợ Ấn Độ, cho dù cô ấy giận dữ, cũng không thể biểu lộ giận dữ của mình với chồng mình, ít nhất là không trong những ngày đó. Nhưng theo cách rất gián tiếp... cô ấy hỏi Phật một câu hỏi. Đó không phải là sự kiện lịch sử, đó là bài thơ của Rabindranath Tagore, chuyện bịa riêng của ông ấy nhưng nó biểu lộ thái độ và cách tiếp cận của ông ấy.

Yashodhara hỏi Phật, 'Chỉ một câu hỏi em phải hỏi anh: trong mười hai năm em đã chờ đợi để hỏi anh câu hỏi này. Anh đã trở nên chứng ngộ rồi: chẳng lẽ không thể trở nên chứng ngộ trong thế giới này sao, trong nhà cùng với em sao? Chỉ một câu hỏi em muốn hỏi anh: liệu có tuyệt đối cần phải trốn khỏi thế giới này, chẳng lẽ điều đó lại không thể có được ở đây trong ngôi nhà này? Em mạnh hơn ý thức của anh sao? Cám dỗ là nhiều hơn việc tìm chân lí sao?'

Và Rabindranath nói Phật cúi đầu và đứng im lặng, chẳng nói gì. Nhưng điều đó nói lên mọi thứ - bây giờ Phật biết điều đó có thể đã xảy ra được trong nhà nữa. Không cần phải từ bỏ vợ và con và cha già và gia đình và mọi người; không cần. Bây giờ ông ấy biết! Bây giờ ông ấy biết rằng chứng ngộ chẳng liên quan gì tới núi non và rừng rậm cả; nó có thể xảy ra ở bất kì đâu.

Rabindranath trong một bài thơ khác nói, 'Tôi không muốn không được sinh ra lần nữa. Tôi cầu nguyện Thượng đế: cho tôi thế giới của ngài lần nữa và lần nữa và lần nữa đi! Nó đẹp thế, nó là món quà tuyệt vời thế - tôi biết ơn!'

Bây giờ đây là thái đối rất chống lại người Ấn Độ, toàn thể khao khát của Ấn Độ đã từng là làm sao gạt bỏ cuộc sống; nó là phủ định cuộc sống. Rabindranath rất khẳng định cuộc sống; ông ấy yêu cuộc sống và yêu nó vô cùng. Ông ấy bị kết án rất nhiều.

Nhưng khi ông ấy được giải thưởng Nobel, thế thì cả đất nước đầy những lời tán dương. Nhưng ông ấy từ chối đi tới đám đông tụ tập, tới các cuộc họp, được dàn xếp để ca ngợi ông ấy. Ông ấy nói, 'Đây không phải là ca ngợi tôi - các ông đang ca ngợi giải thưởng Nobel. Các ông có thể nhận giấy chứng nhận và huân chương và vòng hoa cho nó và làm bất kì điều gì các ông muốn - tôi không định tới đâu!'

Ông ấy được giải thưởng Nobel về cuốn sách Gitanjali - cúng dường bài ca - cuốn ông ấy đã viết hai mươi năm trước. Ở Ấn Độ chẳng ai ca ngợi nó bởi vì nó rất khẳng định cuộc sống, nhưng một khi giải thưởng Nobel đã được trao cho Gitanjali, Gitanjali là điều vĩ đại nhất đã xảy ra cho Ấn Độ. Thế thì cùng những người đó bắt đầu ca ngợi nó.

Ấn Độ chịu phức cảm tự ti lớn lao; trong một nghìn năm nó đã là nô lệ. Cho nên đừng lo nghĩ, tôi biết cách mọi sự sắp xảy ra.

Trước hết, ngày càng nhiều những người phương Tây nhạy cảm, thông minh, tỉnh táo nhất định sẽ tới tôi. Một khi họ ở đây, ngày càng nhiều, hàng nghìn người Ấn Độ sẽ theo sau tới - đó là vì tai nạn lịch sử một nghìn năm cũ.

Bất kì cái gì được phương Tây làm, Ấn Độ đều trở nên nghi ngờ rằng điều đó phải đúng. Trước hết nó phản ứng: 'Làm sao điều đó có thể đúng được?' bởi vì điều đó đi ngược lại truyền thống của Ấn Độ. Thế rồi, dần dần, dần dần nó phải thoả hiệp. Cho nên tôi không lo nghĩ về nó, chẳng lo chút nào. Cứ để người tìm kiếm tới từ mọi xó xỉnh ngóc ngách của trái đất và sớm hay muộn bạn sẽ thấy Ấn Độ cũng tới tôi ngày một gần hơn.

Nhưng họ bao giờ cũng chậm chân trong mọi thứ. Họ đã từng lỡ tầu trong năm nghìn năm - điều đó đã trở thành thói quen của họ. Họ không thể là người tiên phong được, họ đã quên mất cách là người tiên phong. Họ chỉ có thể là người theo sau.

Và công việc này là công việc tiên phong, cái gì đó cực kì mới đang được thử ở đây. Ấn Độ sẽ nghe theo nó, ít nhất tôi hi vọng là vậy. Nhưng bạn không cần lo nghĩ về nó.


Câu hỏi cuối cùng:

Thưa thầy kính yêu,

Trong vài năm tôi đã từng thực hành đứng trên đầu. Nhìn thế giới lộn ngược cũng là cái gì đó tốt! Tuy nhiên bây giờ, một swami ở nhóm định tâm đã nói cho tôi rằng thầy đã nói đứng trên đầu mình là không tốt. Bây giờ tôi tự hỏi sao điều này có thể như vậy được. Cái gì sai với việc đứng trên đầu mình? Xin thầy giải thích điều này cho tôi.

Anand Vibhu, chẳng có gì sai với việc đứng trên đầu bạn - bạn sẽ chỉ trở nên ngu hơn và được kính trọng hơn, không thông minh hơn và thánh thiện hơn. Có ưu điểm và có nhược điểm. Nếu bạn muốn thông minh, thế thì xin đứng trên chân bạn. Nếu Thượng đế đã dự định rằng con người nên đứng trên đầu mình, ngài chắc đã làm bạn theo cách khác.

Tôi cũng thử nó một lần thời thơ ấu, nhưng tôi trông ngu si thế khi đứng trên đầu tôi - và, hơn nữa, tôi cảm thấy buồn ngủ và bởi vì buồn ngủ, tôi ngã nhào và làm cho cổ tôi bị vẹo ít nhất là hai tuần - cho nên tôi quyết định rằng đây không thể là điều Thượng đế muốn tôi làm.

Nhưng, Vibhu này, nếu bạn đã thử nó đủ lâu rồi, bây giờ nó không thể gây hại thêm gì được đâu. Và đôi khi nó có thể còn thuận tiện nữa.

Tôi đã nghe:

Sigmund Freud chết và bị gửi xuống địa ngục - còn chỗ nào khác được? Khi ông ấy tới quỉ đón chào ông ấy - hiển nhiên.

'Xin chào,' quỉ nói. 'Ở đây ông sẽ có một trong ba chọn lựa không thể thay đổi được về nơi ông sẽ ở vĩnh viễn. Lại đây!'

Phòng thứ nhất đầy những người đang mang tảng đá lớn leo lên núi dốc đứng chỉ để thấy chúng rơi lại xuống đáy - rơi tới chỗ họ phải quay lại và bắt đầu lại toàn thể quá trình.

Freud tiếp đó được chỉ cho phòng thứ hai. Nó đầy những người gõ máy chữ. Hàng nghìn người đang gõ lách cách, mỗi người đều có một quỉ trợ tá đứng sau. Bất kì khi nào gõ nhầm, quỉ trợ tá sẽ đánh cho một cú vào lưng.

Freud trở nên cực kì sợ hãi.

Căn phòng cuối cùng đầy cứt người, ngập tới cổ của hàng nghìn người ở đó. Mỗi người có một cốc cà phê mà người đó nhấm nháp, ngay trên bãi cứt.

'Thế nào,' quỉ nói, 'ông chọn phòng nào?'

Freud nghĩ một chốc, nhận ra rằng trong phòng thứ ba, ít nhất cũng không có công việc thể chất, và ông ấy thích cà phê nữa.

'Thôi được, tôi sẽ nhận phòng thứ ba.'

Ông ấy lội qua cứt và chờ đợi ai đó đem cho ông ấy chiếc cốc. Ngay khi ông ấy nghe thấy tiếng đóng sầm cửa đằng sau mình, ông ấy nghe thấy quỉ trợ tá hô to, 'Xong rồi, mọi người! Hết giờ uống cà phê! Mọi người trở lại đứng lộn đầu xuống!'

Đủ cho hôm nay.

Mục lục chính.


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Đứa trẻ nổi loạn - Osho

Tự truyện - Cuộc đời luận sư Osho